HIỆU QUẢ TỪ VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CỘNG TÁC THEO TIẾN TRÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

HIỆU QUẢ TỪ VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CỘNG TÁC THEO TIẾN TRÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Đổi mới giáo dục là một trong những vấn đề quan trọng trong việc quyết định tương lai của đất nước. Một trong những định hướng cơ bản của đổi mới giáo dục hiện nay là chuyển từ nền giáo dục chú trọng dạy lý thuyết, xa rời thực tiễn sang nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.

Đối với học sinh tiểu học, việc hình thành những năng lực này không phải ngày một ngày hai mà là cả quá trình học tập và rèn luyện. Năng lực cộng tác và giải quyết vấn đề là năng lực còn yếu đối với học sinh Tiểu học. Sớm nắm bắt điều này, trong những năm gần đây, trường Tiểu học Lãng Sơn đã không ngừng nâng cao chất lượng và trở thành điểm sáng trong việc dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực người học, chú trọng đổi mới phương pháp, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác cũng như năng lực giải quyết vấn đề của học sinh.

Tuy nhiên làm thế nào để phát huy tối đa năng lực cộng tác, năng lực giải quyết vấn đề cũng như hình thành dần những năng lực chuyên biệt khác cho học sinh? Để giải quyết vấn đề này, trong năm học 2019 – 2020, Trường Tiểu học Lãng Sơn tiếp tục chỉ đạo dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh bằng cách áp dụng một số phương pháp dạy học đặc trưng và đã đạt được một số phản hồi tích cực như: Bàn tay nặn bột, kĩ thuật khăn trải bàn, sơ đồ tư duy, dạy học cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề… Vậy việc áp dụng những phương pháp này sẽ đem lại những hiệu quả gì đến với học sinh? Câu trả lời sẽ được thể hiện rõ trong buổi sinh hoạt chuyên môn ngày 30/10/2019 tại lớp 4C. Cô Nguyễn Thị Thu - GVCN lớp 4C đã tổ chức một tiết học Địa lí bài “Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên” có sử dụng PP “dạy học cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề”. Trong tiết học đó, tất cả các em đã rất hứng thú với việc tự mình giải quyết vấn đề mà cô giáo đặt ra. Các em hoạt động rất tích cực theo 5 bước để tìm ra hướng giải quyết yêu cầu ở hoạt động 3. Không những thế học sinh còn biết đặt thêm những câu hỏi để khai thác sâu thêm kiến thức, qua đó các em cũng hiểu sâu hơn về bài học.

Tiết học được tổ chức qua 3 hoạt động:

Hoạt động 1: Làm việc với lược đồ

Hoạt động 2: Làm việc với bảng số liệu

Hoạt động 3: Xác lập mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên với điều kiện sản xuất

Học sinh tập trung vào bài học

Bước vào đầu tiết học, tôi hoàn toàn ấn tượng bởi cách dẫn dắt các hoạt động học một cách tự nhiên và vô cùng hấp dẫn. Hoạt động kiểm tra bài cũ thường sẽ gây cho học sinh một tâm thế bị động nhưng trong tiết học của cô Thu tôi lại thấy một không khí lớp học toàn khác biệt. Bằng cách đặt câu hỏi: “Em hãy nêu đặc điểm chính về địa hình và khí hậu ở Tây Nguyên” đã kích thích được hứng thú học tập của các em. Các em trả lời rất tự nhiên nhưng hơn cả là tôi hoàn toàn bị thuyết phục bởi cách vào bài có “dụng ý” này. Sự khéo léo trong cách “vắt” kiến thức từ bài cũ sang vận dụng vào dạy bài mới không phải ở bài nào cũng có thể áp dụng. Đồng thời hỏi lại kiến thức về địa hình, khí hậu cũng là tiền đề để học sinh rút ra được mối quan hệ địa lí ở hoạt động 3. Nhận ra được điều này, cho thấy cô Thu đã xác định đúng mục tiêu của bài học và có sự chuẩn bị bài một cách rất kĩ lưỡng, khoa học.

Sau khi kiểm tra bài cũ, các em được quan sát Lược đồ một số cây trồng và vật nuôi chính ở Tây Nguyên, quan sát bảng số liệu về diện tích cây trồng và vật nuôi ở Tây Nguyên. Lúc này, các em tiến hành thảo luận nhóm đôi, trả lời câu hỏi trên phiếu học tập. Các em chia sẻ với nhau rồi kể cho bạn mình nghe các loại cây trồng và vật nuôi chính ở Tây Nguyên. Với không khí vui vẻ, tinh thần học tập tích cực tôi cảm thấy các em như được tự mình khám phá nội dung bài học chứ không phải dựa vào sự trợ giúp của cô giáo – đây chính là điều bất cứ giáo viên nào cũng mong muốn hướng tới. Hơn thế nữa, khi học sinh được lên bảng chỉ các khu vực trồng cây công nghiệp, chăn nuôi các em rất hào hứng. Sự sôi nổi này của học sinh cũng một phần là nhờ việc áp dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy. Các em được quan sát nhiều hình ảnh trực quan hơn là cách học truyền thống. Tôi nhận ra: sự phối hợp linh hoạt, nhịp nhàng giữa phương pháp dạy học với phương tiện dạy học cũng là một yếu tố quan trọng giúp tiết học trở nên hiệu quả. 

Học sinh chia sẻ, tương tác, phản biện trong các hoạt động

Điểm sáng của tiết học là ở hoạt động 3: Xác lập mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên với điều kiện sản xuất. Đây chính là hoạt động được cô Thu áp dụng phương pháp “Dạy học cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề”. Cô Thu tổ chức dạy hoạt động học thực hiện phương pháp này rất rõ ràng theo 5 bước.

Nếu như ở các hoạt động trước học sinh bước từ từ vào nội dung bài, từ kiến thức bài cũ khéo léo chuyển sang bài mới một cách nhịp nhàng thì ở hoạt động này các em phải lập tức suy nghĩ, động não với câu hỏi mang tính thách thức của giáo viên: “Tại sao người dân ở Tây Nguyên lại trồng các cây công nghiệp lâu năm như chè, cà phê, hồ tiêu… và nuôi nhiều trâu, bò, voi…?” Đây cũng chính là câu hỏi có vấn đề mà học sinh cần giải quyết. Lúc này không khí lớp học bắt đầu lắng xuống, học sinh cũng trầm lặng hơn để nhường chỗ cho những tư duy sâu, đòi hỏi sự liên kết giữa các phần của bài học. Qua quan sát   tôi thấy có một vài học sinh giơ tay phát biểu những suy đoán của mình rồi sau đó các em bắt đầu lật giở sách giáo khoa tìm kiếm thông tin, trao đổi nhóm một cách tự phát để chia sẻ, thảo luận nội dung câu hỏi có vấn đề mà giáo viên đã đưa ra.

Do đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là nêu lên tình huống gợi vấn đề vì “Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề”. Lúc này các em sẽ gặp khó khăn trong việc tìm ra câu trả lời nhưng cũng là cách mà các em nhận ra vấn đề một cách tự nhiên, các em biết tìm giải đáp qua tài liệu sách báo, biết tìm đến sự chia sẻ lẫn nhau. Cũng vì vậy mà vấn đề đã được hình thành trong suy nghĩ của học sinh.

Để giải quyết vấn đề, học sinh từ từ hình thành các nhóm cộng tác. Các nhóm này có thể là nhóm 2, nhóm 4 thậm chí cả nhóm 6. Việc hình thành nhóm cộng tác diễn ra rất tự nhiên mà không cần đến hiệu lệnh của giáo viên. Đáng nói hơn cả ở đây là việc hình thành nhóm cộng tác khuyến khích học sinh tìm kiếm các ý kiến và suy nghĩ đa dạng chứ không giống như trong học tập theo nhóm là tìm kiếm sự thống nhất ý kiến của học sinh trong nhóm. Điều này rất phù hợp với yêu cầu đặt ra của bước 2 và 3 là: Học sinh suy đoán các cách giải quyết vấn đề (đề ra tất cả các giải pháp có thể). Lúc này giáo viên đến các nhóm để hỗ trợ kịp thời giúp các em cũng như đóng vai trò là người dẫn dắt hoạt động học. Đây cũng là bước quan trọng tạo tiền đề để học sinh đưa ra cách suy đoán giải quyết vấn đề.

 

Giáo viên giúp đỡ các nhóm cộng tác

 

Dưới sự giúp đỡ của giáo viên và sự hợp tác chia sẻ với các bạn, học sinh đã có thể đưa ra cách giải quyết. Qua một khoảng thời gian ngắn, giáo viên khéo léo đưa các em quay lại hình thức dạy học cả lớp để trình bày kết quả của mình. Từng học sinh thi nhau đưa ra các câu trả lời của mình về câu hỏi có vấn đề: Người ta nuôi nhiều trâu, bò ,voi… vì Tây Nguyên có đồng cỏ xanh tốt, trồng nhiều cây công nghiệp lâu năm vì có đất đỏ bazan tơi xốp màu mỡ, khí hậu chia 2 mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa… Có lẽ em nào cũng mong muốn mình sẽ được phát biểu ý kiến của mình. Nhìn nét mặt hào hứng, tâm thế thoải mái của các em tôi biết các em đã tư duy sâu, trao đổi với bạn khá hiệu quả và rất tự tin đưa ra câu trả lời. Các em còn đưa ra câu hỏi phản biện câu trả lời của bạn khiến giờ học bỗng chốc trở nên sôi nổi tưởng như không dừng lại được.

Học sinh tự tin, thoải mái chia sẻ kết quả của mình với bạn

Sau tiết học, các thầy cô cùng ngồi lại chia sẻ bài học. Mọi người chia sẻ khá sâu về các bước dạy khi sử dụng phương pháp “Dạy học cộng tác theo tiến trình GQVĐ”, giúp tôi cũng như nhiều giáo viên mới nắm được phương pháp này một cách cụ thể sinh động. Tuy nhiên không chỉ dừng lại ở đó, với cương vị là CBQL chỉ đạo SHCM, cô Thanh Thu đặt ra câu hỏi: “Tại sao phần cuối bài, khi học sinh chia sẻ kết quả học tập, một số em học sinh mất tập trung?”. Có lẽ là do cấu trúc bài học. Tiết học kéo dài 35 phút với nhiều hình ảnh trực quan sinh động nhưng hoạt động dạy học cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề lại đưa vào hoạt động cuối của bài, điều này đã giảm bớt đi tính hấp dẫn, thu hút học sinh tham gia vào tình huống có vấn đề. Học sinh đang hứng thú với các hình ảnh về cây hồ tiêu, đất bazan, voi… ở hoạt động trước nên đến hoạt động này sự chú ý của các em đã giảm đi phần nào. Hơn thế nữa là đã về gần cuối tiết học, học sinh cũng đã khá mệt mỏi nên khả năng tập trung lắng nghe ở một số em còn hạn chế.”Qua đây tôi cũng rút ra được bài học là cần đưa những nội dung trọng tâm cần truyền đạt lên đầu tiết học để thu hút sự tập trung của học sinh như vậy hiệu quả giáo dục đạt được sẽ trọn vẹn hơn.

Tôi thích phần chia sẻ của cô Ngát về việc xử lý tình huống sư phạm. Khi em Sơn-một học sinh láu lỉnh- đặt câu hỏi phản biện “Lễ hội nào ở Tây Nguyên nhiều người tham gia nhất?”, cô Thu trở nên lúng túng trước câu hỏi không liên quan đến bài học. Sau đó cô cũng có câu trả lời:“ Bài học hôm nay chúng mình học về hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên chứ không phải về lễ hội.” và cô đã bỏ qua câu hỏi đó khiến em Sơn có phần hụt hẫng thậm chí là hơi ngượng với bạn bè. Đó là điều không nên có ở bất cứ tình huống nào kể cả thời gian tiết học còn rất ít. Chúng ta không nên bỏ qua câu hỏi của học sinh mà cần khéo léo chuyển hướng sang nội dung khác. Chẳng hạn: Trong lớp mình ai trả lời được câu hỏi của bạn Sơn? Hoặc: Đây là một câu hỏi rất thú vị, cô muốn các em về tìm hiểu thêm, chúng ta sẽ cùng nhau giải đáp vào ngày mai…Qua đây tôi cũng thấy được việc xử lí tình huống sư phạm là một yếu tố vô cùng quan trọng nhằm khơi dậy hứng thú học tập và sự đam mê tìm tòi học hỏi của mỗi học sinh.

  1. buổi SHCM này tôi cũng thu nhặt được nhiều kinh nghiệm qua những ý kiến chia sẻ của đồng nghiệp. Điều đầu tiên tôi rút ra được rằng, để một tiết học thành công bao giờ người giáo viên - người nghệ sĩ cũng cần phải nắm chắc mục tiêu bài học. Cô Thu nắm rất rõ không chỉ mục tiêu của cả bài học mà còn là mục tiêu của từng hoạt động học. Có như thế thì các hoạt động mới diễn ra một cách nhịp nhàng đến vậy. Thứ hai là phương pháp dạy học. Nếu như mục tiêu dạy học là là cái đích chúng ta cần hướng tới thì phương pháp dạy học là phương tiện giúp ta tới cái đích tri thức ấy. Thú vị nhất là phương pháp dạy học cộng tác theo tiến trình giải quyết vấn đề giúp học sinh không chỉ nắm được kiến thức mà còn hình thành các năng lực: năng lực cộng tác, lắng nghe, chia sẻ, giải quyết vấn đề,… cũng như các phẩm chất của người học. Phương tiện dạy học, cách xử lí tình huống sư phạm cũng rất quan trọng trong việc làm nên một tiết học hiệu quả. Tôi tin rằng, qua tiết dạy của cô Thu, nhiều giáo viên trong trường sẽ hiểu rõ hơn và áp dụng tốt phương pháp dạy học này.

                                                                Lãng Sơn, tháng 11-2019

                                           Người viết: Nguyễn Thị Huyền

                                                                 Giáo viên trường Tiểu học Lãng Sơn

 

 

Bài viết liên quan

 

 

 

Trường Tiểu học Lãng Sơn 

Địa chỉ: Thôn Tân Mĩ , Xã Lãng Sơn

Điện thoại: 0978342135

Email: c1langsonyd.bacgiang@moet.edu.vn

 

 

 

Hỗ trợ & phát triển bởi EduPortal

Ghi rõ nguồn EduPortal khi trích thông tin từ website này